Thứ Tư, 24 tháng 11, 2010

Những công cụ miễn phí đánh giá hiệu suất hoạt động của máy tính

- Chấm điểm (benchmark) hệ thống là cách thức đơn giản để biết được máy tính mình đang sử dụng có thể hoạt động với mức độ và tốc độ như thế nào.

Dựa vào kết quả benchmark, bạn có thể có phương hướng để nâng cấp cấu hình sao cho phù hợp và đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Khi tiến hành benchmark, các phần mềm chấm điểm sẽ yêu cầu hệ thống thực hiện một công việc nào đó với tối đa công suất của mình trong một khoảng thời gian nào đó, để cuối cùng rút ra được kết quả mà hệ thống đã đạt được.

Đặc biệt, trước khi sử dụng các phần mềm tối ưu và tăng tốc hệ thống, bạn có thể tiến hành chấm điểm tổng quan của hệ thống, sau đó tiến hành tối ưu hệ thống bằng các phần mềm chuyên dụng, thực hiện chấm điểm lại một lần nữa và so sánh kết quả của trước và sau khi thực hiện tối ưu để có được sự so sánh và rút ra tác dụng của phần mềm tối ưu, từ đó lựa chọn và sử dụng phần mềm phù hợp.

Dưới đây là những công cụ miễn phí, cho phép bạn thực hiện các phép thử nghiệm và chấm điểm hiệu suất hoạt động của hệ thống.

Lưu ý: khiên thực hiện benchmark để chấm điểm hệ thống, bạn không nên kích hoạt thêm các phần mềm khác vì có thể làm ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng.

Đánh giá hiệu suất của toàn hệ thống:

Novabench là phần mềm miễn phí, cho phép đánh giá hiệu suất hoạt động của toàn bộ các thiết bị trên hệ thống như vi xử lý (cpu), RAM, khả năng xử lý đồ họa, tốc độ đọc ghi của ổ cứng…

Download phần mềm tại đây.

Sau khi cài đặt, tại giao diện chính của phần mềm, nhấn nút Start Benchmark Test.


Phần mềm khuyên bạn nên tắt toàn bộ các ứng dụng đang chạy để kết quả kiểm tra được chính xác. Nhấn nút Process để bắt đầu. NovaBench sẽ lần lượt thực hiện kiểm tra từng thành phần của hệ thống.

Sau khi quá trình kiểm tra kết thúc, kết quả cuối cùng và điểm số của từng thành phần cũng như tổng điểm của toàn bộ hệ thống sẽ được phần mềm hiển thị. Dựa vào đây, bạn sẽ biết được thông tin chi tiết về hiệu suất hoạt động của hệ thống mình đang sử dụng.



Bạn có thể nhấn Save để lưu lại kết quả và so sánh với những kết quả ở lần sau.

Đánh giá hiệu suất của vi xử lý (cpu):

Nếu phần mềm kể trên cho bạn kết quả toàn diện về hiệu suất hoạt động của toàn bộ hệ thống, thì SuperPi chỉ thực hiện kiểm tra và đánh giá hiệu suất của cpu. Super Pi sẽ yêu cầu cpu của bạn xử lý một số phép tính lến đến 32 triệu số thập phân, để kiểm tra xem cpu phải mất bao lâu để hoàn thành các phép tính, rồi rút ra kết quả khoảng thời gian cuối cùng.

Super Pi thực sự hữu dụng trong trường hợp bạn muốn ép xung vi xử lý, và dựa vào kết quả này để biết được hiệu suất hoạt động và tính toán của vi xử lý có được tăng lên và cải thiện hay không.

Download phần mềm miễn phí tại đây.

Sau khi download, giải nén và kích hoạt file SUPER_PI.exe để sử dụng ngay mà không cần cài đặt. Từ giao diện chính của phần mềm, nhấn nút Calculate, chọn độ lớn của phép toán. Độ lớn của phép toán tăng dần từ 16K (16 ngàn phép toán) đến 32M (32 triệu phép toán), với số lần lặp thay đổi dựa theo độ phức tạp của phép toán.

(Pic 3)

Sau khi kết thúc số lần lặp để thực hiện số phép toán, kết quả cuối cùng là tổng thời gian để thực hiện số phép toán đó. Mức độ tính toán càng phức tạp, tổng thời gian thực hiện càng dài.


Kết quả là thời gian thực hiện, tương ứng với độ phức tạp của thuật toán mà cpu phải xử lý.

Kết quả tốt nhất của mỗi lần kiểm tra tương ứng với mức độ phức tạp của thuật toán sẽ được hiển thị trên giao diện chính của Super Pi. Bạn cũng có thể xem lại kết quả này ở file pi_rec.txt nằm trong thư mục của Super Pi.

Lưu ý: khi sử dụng Super Pi để chấm điểm xử lý của cpu, bạn không nên kích hoạt các phần mềm khác, có thể làm ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng.

Đánh giá tốc độ đọc/ghi và sức khỏe ổ cứng:

Ổ cứng là một trong những thành phần quan trọng, ảnh hưởng đến tốc độ của hệ thống. Để kiểm tra sức khỏe và mức độ ổn định của ổ cứng, bạn có thể nhờ đến “4 tiện ích miễn phí kiểm tra và chẩn đoán sức khỏe ổ cứng”.


Với 4 công cụ trên, không chỉ giúp bạn có cái nhìn tổng quan về khả năng xử lý của ổ cứng, mà còn giúp nhận biệt sớm những dấu hiệu bất ổn để kịp thời thay thế và sao lưu dữ liệu, tránh những mất mát đáng tiếc do hỏng ổ cứng.

Đánh giá khả năng xử lý đồ họa:

Bạn là một game thủ hoặc 1 tín đồ của phim độ nét cao (HD), hẳn bạn phải đánh giá xem khả năng xử lý đồ họa của hệ thống có đủ đáp ứng một game mới hay một bộ phim chuẩn HD hay không.

Fraps không giống với các phần mềm chấm điểm kể trên, phải yêu cầu hệ thống thực hiện một khối lượng công việc nào đó, mà Fraps sẽ ghi lại hiệu suất xử lý đồ họa trên hệ thống, và cung cấp thông tin về mức độ mà card đồ họa có thể có thể xử lý (bao nhiêu khung hình/giây – frames per second).

Download fraps miễn phí tại đây.

Sau khi cài đặt, biểu tượng của chương trình sẽ xuất hiện trên khay hệ thống. Mỗi khi bạn kích hoạt 1 đoạn video, hay chơi một game nào đó, kích chuột phải vào biểu tượng phần mềm, chọn View Benchmarks, thông tin về số khung hình/giây (fps) của game hay của đoạn film sẽ được hiển thị ở góc trên bên trái của màn hình.



Thông tin này thường thay đổi khi chơi game và cố định khi xem video. Khi đạt đến một thông số fps nào đó và hình ảnh bắt đầu có hiện tượng giật, máy tính trở nên nặng nề hơn, nghĩa là khả năng xử lý đồ họa của bạn sẽ chỉ đáp ứng được tới mức độ fps đó.

Dựa vào đây, bạn có thể nâng cấp card xử lý đồ họa để có thể đáp ứng được những game yêu cầu khả năng xử lý hình ảnh cao.

Ngoài khả năng cung cấp thông tin về số fps, Fraps còn cho phép người dùng ghi lại hoạt động của màn hình (rất tiếc, với bản miễn phí chỉ cho phép ghi lại tối đa 30 giây). Để làm điều này, sau khi cài đặt và kích hoạt phần mềm, bạn có thể nhấn phím F9 để quay lại nội dung trên màn hình. File video ghi được sẽ được lưu trong thư mục Movies của thư mục cài đặt của Fraps.

Tương tự, bạn cũng có thể chụp lại hình ảnh (screenshot) khi xem video hay chơi game. Để làm điều này, sau khi kích hoạt Fraps, bạn chỉ việc nhấn phím F10 trên bàn phím. Những hình ảnh chụp màn hình sẽ được lưu trong thư mục Screenshots của thư mục cài đặt Fraps.

Trên đây là những công cụ miễn phí để tự đánh giá và chấp điểm hiệu quả xử lý của hệ thống. Tùy thuộc vào mục đích và thành phần cần đánh giá, bạn có thể tự chọn ra công cụ phù hợp để sử dụng cho thích hợp. Tuy nhiên, có một cái nhìn tổng quan về hiệu suất hoạt động của hệ thống sẽ giúp bạn có hướng sử dụng và khai thác máy tính một cách hiệu quả hơn.

Phạm Thế Quang Huy

Thứ Hai, 22 tháng 11, 2010

Số 7 'huyền bí'

Thị trường sách hiện nay xuất hiện nhiều tác phẩm bán chạy (best-seller) được chuyển thể tiếng Việt như 7 thói quen của những người thành đạt của Stephen Covey (2006) và mới đây là tác phẩm 7 Bí mật thành công của các triệu phú trẻ của nhà tỷ phú trẻ người Mỹ Nick Tart.

Phải chăng số 7 là một con số “huyền bí” vì nó không những xuất hiện trong các tác phẩm trên mà hầu như trong nhiều lĩnh vực trong đời sống.

Khi nghiên cứu về não người, Giáo sư tâm lý học người Mỹ George Miller phát hiện rằng trí nhớ của một người trưởng thành gồm khoảng 7 thành tố. Nghĩa là, một người trưởng thành chỉ có thể nhớ được khoảng 7 con số hay chữ cái sau khi xem qua một loạt số hay chữ cái được sắp ngẫu nhiên trong một khoảng thời gian ngắn. Vì thế, trong bài báo khoa học Con số 7 huyền bí, cộng hay trừ 2 (1955), GS Miller gọi trí nhớ ngắn hạn của con người là “Con số 7 huyền bí”.

Trong phong thủy thì số 7 được xem là con số có sức mạnh kỳ diệu. Nghi lễ đạo Lão dùng 7 thanh gươm (Thất Kiếm) để xua đuổi ma quỷ. Còn nếu 7 món đồ vật được bài trí trong nhà thì ngôi nhà đó sẽ có sức mạnh kỳ bí khiến ma quỷ không thể xâm phạm và mang đến “xui xẻ” cho chủ nhà. Phải chăng niềm tin phong thủy đã dẫn đến sự hình thành từ ghép nội thất để chỉ đồ vật trong nhà trong tiếng Việt bởi vì thất, theo từ điển Hán - Việt còn có nghĩa là 7 hoặc mất.

Số 7, trong toán học căn bản, là một số lẻ mà nếu lấy 999.999 chia 7 được chính xác 142.187 (chữ số tận cùng lại là 7). Năm 2000, Học viện Toán học Clay ở Mỹ treo giải thưởng Toán học thiên niên kỷ (TTNK) và Nghiên cứu Toán học Clay (NCTC) cho những học giả có thể chứng minh được một trong số 7 vấn đề toán học “hóc búa” nhất thế giới và có nhiều đóng góp cho toán học. Năm 2008, GS Ngô Bảo Châu được trao giải thưởng NCTC năm 2008 vì đã xuất sắc chứng minh bổ đề cơ bản, một trong số 7 vấn đề “hóc búa”, trước khi ông nhận giải thưởng toán học danh giá Fields năm 2010.
Thể thao cũng có bóng dáng của số 7. Trong môn bóng ném, hai đội bóng, với đội hình gồm 7 người, thi đấu ném và chuyền bóng về phía khung thành của đối phương để ghi bàn, đội ghi được nhiều bàn thắng trong hai hiệp thi đấu 30 phút sẽ là đội chiến thắng.

Luật bóng ném, từ năm 1917 đến nay, đưa ra luật phạt đền 7 mét, tương tự như phạt đền penalty trong bóng đá. Nghĩa là, một cầu thủ sẽ đứng ở vạch 7 mét trước khung thành đối phương để thực hiện quả phạt đền 7 mét.

Số 7 cũng xuất hiện trong văn học và nghệ thuật. Loài người sáng tạo ra 7 loại hình nghệ thuật cơ bản trong suốt thời kỳ lịch sử phát triển của mình: Điêu khắc, Hội họa, Âm nhạc, Múa, Văn chương, Sân khấu, Điện ảnh - còn gọi “nghệ thuật thứ bảy”.

Âm nhạc chỉ có 7 nốt nhạc nhưng tạo ra nhiều thể loại âm nhạc khác nhau. Văn học thì có những tác phẩm đặc sắc với sự hiện diện của số 7 như: Những (7) cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Sinbad trong thần thoại Ả Rập Nghìn lẻ một đêm; truyện cổ tích Bạch Tuyết của anh em nhà văn Đức Grimm, sau được Walt Disney chuyển thể thành phim hoạt hình màu lần đầu tiên vào năm 1937 và được trẻ em yêu thích nhờ vào 7 tính cách ngộ nghĩnh của 7 chú lùn.

Số 7 cũng có mặt trong vật lý học. Triết gia Hy Lạp Aristole (384 – 322 trước công nguyên) cũng như giới nghệ thuật thời Phục hưng cho rằng có 7 màu cơ bản cho việc phối màu. Đến thế kỷ 17, nhà bác học Isaac Newton, cha đẻ thuyết trọng lực và vật lí quang học, định nghĩa cầu vòng với 7 màu cơ bản: Đỏ, Cam, Vàng, Xanh lá cây, Xanh dương, Chàm, và Tím. Newton lúc đầu chỉ đưa ra 5 màu nhưng về sau này ông đã thêm vào hai màu Cam và Tím. Hiện có một vài tranh cãi về việc Newton thêm vào hai màu cho phù hợp với 7 nốt nhạc hay vì số 7 là một giới hạn “huyền bí” trong khoa học.

Tâm lý học phổ thông thường được thể hiện qua những tác phẩm hoàn thiện bản thân (sefl-help) như, 7 thói quen của những người thành đạt của Stephen R. Covey v.v.., với mục tiêu giúp người đọc tư phát triển những kỹ năng sống thông qua những câu chuyện có thật, những kinh nghiệm của chính tác giả viết sách. Những tác phẩm này rất hữu ích nhưng có giá thành khá cao nên chưa đến được với đông đảo độc giả là sinh viên và học sinh ở Việt Nam. Và kì lạ thay, số 7 cũng xuất hiện trong những tác phẩm này.

Giáo sư người Australia Francesco Sofo viết một tác phẩm rất hay dành cho sinh viên của ông với tựa đề Hãy mở rộng tâm hồn: 7 chìa khóa tư duy tích cực (2004). Khi được hỏi dựa trên cơ sở nào mà ông chỉ trình bày 7 cách tư duy tích cực trong quyển sách của mình, vị GS trả lời: “… bởi vì số 7 là một con số “huyền bí” và đơn giản là tôi cũng không thể nghĩ ra hơn nữa …”.

Năm 1955, Giáo sư Miller kết luận bài báo khoa học của mình với nhiều câu hỏi thú vị như: Tại sao có 7 kỳ quan thế giới, 7 đại dương, 7 tội ác của loài người trong tôn giáo, 7 nốt nhạc, và 7 ngày trong tuần?

Sự xuất hiện của số 7 trong nhiều lĩnh vực đời sống có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Cũng có thể số 7 có một sức “quyến rũ kỳ lạ” đối với các nhà khoa học, hay số 7 là một giới hạn “huyền bí”?

Ngô Duy Phúc

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010

9 nơi thích hợp để tìm sự sống ngoài trái đất

Discovery liệt kê những nơi mà con người có thể tới để tìm dấu hiệu của sự sống trong không gian.

1. Vệ tinh Callisto của sao Mộc

Ảnh: NASA.
Ảnh: NASA.

Các nhà khoa học của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) từng cho rằng Callisto là một vệ tinh “chết”. Nhưng vào năm 1996 và 1997, tàu vũ trụ Galileo của NASA đã bay qua vệ tinh lớn thứ hai của sao Mộc này và nhận thấy từ trường của Callisto có sự thay đổi. Năm 2001, tàu Galileo phát hiện có một tiểu hành tinh đâm vào Callisto, hình thành lòng chảo Valhalla.

Thông thường, những va chạm lớn như vậy sẽ tạo nên những chấn động mạnh lan khắp hành tinh, nhưng tàu Galileo lại không ghi nhận được bất kỳ tác động nào. Điều này khiến các nhà khoa học đưa ra giả thuyết có một đại dương đã làm giảm tác động của vụ va chạm. Do sự hiện diện của nước đồng nghĩa với sự sống, các nhà thiên văn học tin tưởng nếu một đại dương như vậy thực sự tồn tại trên Callisto thì những dạng sống phức tạp cũng có thể có mặt ở đó.

2. Sao Hỏa

Một số nghiên cứu trước đây cho thấy sao Hỏa từng là một hành tinh có khí hậu ấm áp và nước ở dạng lỏng - hai điều kiện cần thiết để sự sống hình thành. Năm 2008, tàu vũ trụ Phoenix của Mỹ gửi về trái đất hình ảnh về những mẩu băng bên dưới lớp đất bề mặt. Một năm sau các nhà khoa học Mỹ phát hiện khí metan (CH4) trong bầu khí quyển của sao Hỏa - một dấu hiệu cho thấy hành tinh đỏ có thể vẫn đang duy trì sự sống. Vi khuẩn tạo khí metan là một trọng những dạng sống sơ khai nhất trên địa cầu. Nếu những dạng sống tương tự đang tồn tại trên sao Hỏa thì có lẽ chúng trú ẩn dưới bề mặt của hành tinh.

3. Vệ tinh Europa của sao Mộc

Giới khoa học dự đoán thiên thể này chứa cả những vi sinh vật đơn giản và các dạng sống phức tạp. Trong nhiều năm họ tin vào giả thuyết rằng có một đại dương chứa oxy nằm dưới bề mặt đóng băng của Europa. Trong một nghiên cứu vào năm 2009, chuyên gia Richard Greenberg của trường Đại học Arizona tại Mỹ ước tính rằng lượng oxy trong đại dương dưới bề mặt Europa đủ lớn để duy trì sự sống cho khoảng 3 triệu tấn vi sinh vật.

Tuy nhiên, cho đến nay loài người vẫn chưa tìm được bằng chứng rõ ràng về sự tồn tại của một đại dương nằm dưới bề mặt băng giá của Europa.

4. Những hành tinh gần ngôi sao khổng lồ đỏ

Một ngôi sao khổng lồ đỏ đang hấp hối. Ảnh:
Một ngôi sao khổng lồ đỏ đang hấp hối. Ảnh: hubpages.com.

Trái đất là nơi lý tưởng cho sự sống bởi vị trí của nó. Trái đất không quá xa và cũng chẳng quá gần mặt trời. Nếu quá gần thì nước trên hành tinh của chúng ta sẽ bốc hơi hết, còn nếu quá xa thì trái đất sẽ là một nơi lạnh giá khắc nghiệt khiến nước chỉ có thể tồn tại ở dạng băng. Trong khi đó nước ở dạng lỏng là nguyên liệu cực kỳ cần thiết đối với sự sống.

Trước khi một ngôi sao khổng lồ đỏ chết, nó bùng nổ thành một khối cầu khổng lồ, với kích thước và độ sáng tăng rất nhanh. Nó phóng ra ngoài không gian những phóng xạ có thể làm một hành tinh ấm lên. Năm 2005, một nhóm chuyên gia thiên văn quốc tế phát hiện ra rằng, nếu những tia sáng từ một ngôi sao như vậy chạm tới bề mặt của những hành tinh băng giá thì bề mặt đóng băng của chúng sẽ tan chảy thành thể lỏng, tạo cơ sở cho sự sống hình thành.

5. Vệ tinh Titan của sao Thổ

Titan nằm ở vị trí không nhận được ánh sáng mặt trời nên nhiệt độ bề mặt của nó thường xuyên ở mức -190 độ C. Năm 2005, tàu thăm dò không người lái Huygens của NASA phát hiện chất giống như metan dạng lỏng trên bề mặt tiểu hành tinh này. Tháng 5/2010, tàu vũ trụ Cassini của NASA phát hiện Titan chứa một hỗn hợp hydro và acetylene.

Nếu sự sống tồn tại trên Titan thì điều đó có nghĩa là sự sống có thể hiện diện trong môi trường hoàn toàn khác địa cầu. Do đó loài người sẽ phải xem xét lại mọi hiểu biết về hoạt động của sự sống.

6. Vệ tinh Enceladus của sao Thổ

Hình minh họa vệ tinh Enceladus của sao Thổ (trên) và trái đất (dưới). Ảnh:
Hình minh họa vệ tinh Enceladus của sao Thổ (trên) và trái đất (dưới). Ảnh: adimuro.com.

Khi tàu vũ trụ Cassini bay qua một trong những mạch ngầm sinh ra băng và khí của Enceladus vào năm 2005, nó phát hiện cacbon, hydro, nitơ và oxy. Đây là các nguyên tố cần thiết để nuôi dưỡng sinh vật sống. Ngoài ra, nhiệt độ và độ đặc của không khí trên bề mặt thiên thể này cũng cho thấy nó có thể chứa một nguồn nước ấm bên dưới bề mặt. Tuy nhiên, giới khoa học vẫn chưa có bằng chứng nào xác nhận sự sống hiện diện nơi đây.

Trên trái đất, các vi sinh vật tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt được tìm thấy ở những miệng núi lửa dưới biển và trong lớp băng vùng Bắc Cực – nơi không nhận được ánh sáng mặt trời. Vì vậy các nhà khoa học hy vọng những vi sinh vật như vậy cũng tồn tại trên Enceladus.

7. Thiên thạch

Loài người thống kê được khoảng 22.000 thiên thạch rơi vào trái đất, trong đó, nhiều thiên thạch có chứa các hợp chất hữu cơ.

Năm 1996, một nhóm nhà khoa học tuyên bố họ tìm thấy bằng chứng thuyết phục về các hóa thạch siêu nhỏ trên một thiên thạch từ sao Hỏa được tìm thấy ở Nam Cực. Phát hiện này khiến các nhà sinh học đặt ra giả thuyết: Sự sống có thể đã tồn tại trên hành tinh đỏ từ khoảng 3,6 tỉ năm trước.

Nếu giả thuyết trên đúng thì nó không hề mâu thuẫn với học thuyết “nguồn gốc sự sống bắt nguồn từ vũ trụ”. Thuyết này cho rằng sự sống bắt nguồn từ một hành tinh nào đó và "di cư" tới trái đất. Trên những hành tinh khác thì sinh vật sống chỉ là vi khuẩn. Chúng có thể ngừng hoạt động tạm thời khi môi trường sống trở nên khắc nghiệt.

8. Tinh vân Orion

Ảnh: NASA.
Ảnh: NASA.

Vào tháng 5/2010, các nhà khoa học của Đài quan sát Herschel của Cơ quan Vũ trụ châu Âu nhận thấy tinh vân Orion, cách trái đất 1.500 năm ánh sáng, có thể chứa các chất hữu cơ phù hợp cho sự sống tồn tại. Dữ liệu mà kính thiên văn thu thập được cho thấy nhiều loại phân tử có khả năng hỗ trợ sự sống đang tồn tại trên tinh vân Orion, như carbon monoxide (CO), formaldehyde (HCHO), sulfur dioxide (SO2) và hydrogen cyanide (HCN).

9. Các hành tinh ngoài hệ mặt trời

Dải Ngân Hà chứa khoảng 400 tỉ ngôi sao và hành tinh. Vì vậy, rất có khả năng hàng tỉ thiên thể trong vũ trụ chứa sự sống.

Chúng ta mới chỉ khám phá những hành tinh ngoài hệ mặt trời trong thập niên 90 của thế kỷ 20. Mỗi năm giới khoa học lại phát hiện thêm hàng chục hành tinh có thể chứa hợp chất hữu cơ. Chẳng hạn, hành tinh HD 209458b chứa nước, metan và cacbon dioxide – những yếu tố cơ bản cho sự sống – trong bầu khí quyển. Ngoài ra loài người vẫn còn vô vàn cơ hội tìm thấy các hành tinh khác thích hợp cho sự sống phát triển trong vũ trụ.

Ngọc Thúy